Thông Báo:Toàn bộ nội dung trên trang đều được chuyển qua sever mới HoaKe.Mobie.In. Chúc các bạn luôn tinh tấn và an lạc!
Tam mật tương ứng là gì?
Admin [ON] Người Sáng Lập
Mật tông cho rằng tam mật tức là thân mật, khẩu mật, ý mật là nội dung chủ yếu của tất cả các pháp tu, là điểm then chốt trong tu hành Mật tông, là phương pháp và lí luận cơ bản mà người tu hành Mật tông nhất định phải tin theo, tuân thủ nghiêm khắc và thực hiện. Tu trì bản tôn cũng không ngoại lệ.
Tam mật là gì?
Tam mật là thân mật, khẩu mật, ý mật, là phương pháp tu trì cơ bản của Mật tông. Thông qua tu hành tam mật có thể khiến ba nghiệp thân, khẩu, ý của người tu hành được thanh tịnh, đạt được cảnh giới chuyển thức thành trí, tức thân thành Phật. Tam mật là nội dung chủ yếu trong tất cả pháp tu của Mật tông, là điểm mấu chốt trong tu hành, cũng là phương pháp và lí luận cơ bản mà người tu hành Mật tông nhất định phải tin theo, nghiêm khắc tuân thủ và thực hệin. Tu trì bản tôn cũng không ngoại lệ.
Tam mật của Phật tức là chỉ ba nghiệp của Phật, có đặc điểm “sâu xa và vi tế, suy nghĩ của người thường không thể đạt đến được, thập địa đẳng giác cũng không thể thấy nghe”. Chúng sinh đều có tính Phật, bản tính cũng giống như tam mật của Phật. Tam mật của Phật và tam nghiệp của chúng sinh tương ứng, thì có thể thành tựu nghiệp dụng không thể ngờ tới. Tam nghiệp của chúng sinh không chỉ phù hợp với tam nghiệp của Phật, mà còn hàm ẩn trong tam nghiệp của Phật.
Tam mật gia trì và tam mật tương ứng
Tam mật có hai loại là hữu tướng và vô tướng. Tam mật hữu tướng chỉ Phật và chúng sinh hoà hợp, bước vào cảnh giới Du già, chúng sinh thân kết ấn (thân mật), miệng tụng chân ngôn (khẩu mật), ý nghĩ quán tưởng bản tôn (ý mật); tam mật vô tướng chỉ tất cả hành vi của thân thể, ngôn ngữ và những suy nghĩ trong nội tâm của chúng sinh đều là tam mật.
Về phương pháp tu hành cụ thể, Mật tông có phương pháp tu hành tam mật gia trì và tam mật tương ứng. Căn cứ vào tam mật hữu tướng, tam mật của Phật sẽ gia hộ nhiếp trì trên tam nghiệp của chúng sinh, gọi là tam mật gia trì. Tam mật của Phật và tam mật của chúng sinh tương ứng hoà hợp, gọi là tam mật tương ứng. Nếu căn cứ vào phương pháp tu hành, tức là người tu hành tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, trong lòng quán tưởng, thì có thẻ khiến tam nghiệp thân, khẩu, ý của mình được thanh tịnh, tương ứng với thân, khẩu, ý của bản tôn, tức thân thành Phật.
Thân mật
Thông thường, tu hành thân mật lấy thủ ấn làm chủ yếu, tức là tay kết ấn khế, cũng có nghĩa là thông qua sự kết hợp của bàn tay và ngón tay tạo thành những thủ ấn có những hình dạng khác nhau, đồng thời phối hợp với tưởng tượng và ý niệm, hình thành một loại pháp tu. Chủng loại thủ ấn Mật tông có rất nhiều, có hàng nghìn kiểu, mỗi vị bản tôn đều có những ấn tướng đặc biệt của mình, mỗi loại thủ ấn đều có chức năng, tên riêng và nội hàm đặc biệt của nó. Thông qua tay kết ấn khế, hơi thở thân mật của người tu hành và các chư Phật, Bồ Tát đã thành tựu pháp giới tương ứng với nhau, từ đó chuyển hoá thân nghiệp của bản thân người tu hành thành thân mật của Phật.
Ngoài việc kết thủ ấn, thân mật còn bao gồm các loại tư thế ngồi, tư thế thường thấy là ngồi kiết già hoặc bán kiết già. Tư thế kiết già là hai mu bàn chân lần lượt đặt lên đùi trái phải, tư thế nửa kiết già tức là đặt bàn chân trái bên dưới đùi phải, chân phải đặt lên đù trái, tay phải đặt trên tay trái, hoặc trái phải đặt đối nhau.
Ngoài ra thân mật còn bao gồm các phương pháp tu khí, tu mạch, tu minh điểm và chuyết hoả…
Khẩu mật
Khẩu mật còn gọi là ngữ mật, thanh mật, cũng gọi là lời chú, chân ngôn. Phật giáo Tây Tạng cho rằng, chữ viết, ngôn ngữ thế gian đều là giả pháp vô căn cứ, không có thực, chỉ có những ngôn ngữ bí mật của Phật, Bồ Tát mới là minh ngôn chí lí chân thật không giả tạo. Thành tâm trì tụng chân ngôn, có thể kêu gọi những thệ nguyện, công đức mà chư Phật, Bồ Tát đã thành tựu, để gia trì vào người tu hành, khiến công đức tự tính vốn có của người tu hành được hiển hiện, tạo ra hiệu lực không thể ngờ được, có thể diệt tội, tăng phúc, ích trí, trừ chướng, tiêu tai, tránh tà, nhập định, đạt được các loại mục đích thế gian và xuất thế gian, thậm chí tức thân thành Phật.
Cũng phải nói thêm rằng, khi tụng niệm chân ngôn, chỉ cần chú ý vào âm thanh, không cần nghiên cứu ý nghĩa của nó. Cũng có nghĩa là khi tụng niệm, không cần hoạt động tư duy để suy nghĩ về ý nghĩa của chân ngôn, chỉ cần kiên định lòng tin và tâm niệm, chuyên tâm bền chí tụng niệm thì có thể đạt được mục đích.
Ý mật
Ý mật là phần quan trọng nhất trong tam mật, cách tu hành chủ yếu của ý mật là quán tưởng, tức là dùng phương pháp suy nghĩ, tưởng tượng, coi bản vô thành hiện hữu để tu hành. Trong Phật giáo Tây Tạng, đối tượng để quán tưởng vô cùng đa dạng, thông thường gồm bốn loại là tự, sự, pháp, nhân. Tự tức là quán tưởng một số chữ Phạn (Tất Đàm), chữ Tạng. Sự tức là quán tưởng về các vật như nguyệt luân, hoa sen. Pháp là quán tưởng các pháp như từ bi, tính không. Nhân tức là quán tưởng về người như thượng sư, bản tôn… Người tu hành thông qua việc chuyên tâm vào một niệm, từ đó tiêu trừ được ngã chấp, vô minh, chuyển thức thành trí.
Phương pháp quán tưởng bản tôn là một trong những đặc sắc lớn của Phật giáo Tây Tạng. Người tu hành kết thủ ấn của bản tôn, niệm chân ngôn của bản tôn, quán tưởng bản tôn hiển hiện trên bầu hư không trước mặt, phát ra ánh sáng bao trùm lên bản thân, sau đó di chuyển lên đỉnh đầu mình, phát ra ánh sáng lớn lao, từ trong ánh sáng chảy ra nước cam lộ, tràn thân thể, khiến khí đen trong cơ thể thoát ra từ các lỗ chân lông, cuối cùng bản tôn hoà nhập hoàn toàn với người tu hành, người tu hành hoá thân thành bản tôn.
Trên thực tế, cách tu trì thân, khẩu, ý của Tạng Mật, đặc biệt là tu trì phép quán tưởng là nhằm mục đích nhập định, trong tiếng Phạn là Tam ma địa, hoặc Tam muội. Nhập định là pháp môn cao nhất và cảnh giới cao nhất trong tu trì mật pháp Phật giáo. Mục đích của tất cả các phép tu trong Tạng Mật đều là nhập định.